Trung Quốc "siết" nhập khẩu, TKV vỡ kế hoạch xuất khẩu than, tồn kho 2,5 triệu tấn

Tồn 2,5 triệu tấn than vì Trung Quốc
 
Theo TKV, khối lượng than xuất khẩu ước thực hiện năm 2017 là 2,03 triệu tấn (bằng 50% kế hoạch được Thủ tướng thông qua). Trong đó, TKV đạt 2 triệu tấn (bằng 50% kế hoạch được Thủ tướng thông qua), Tổng công ty Đông Bắc đạt 31,5 nghìn tấn (bằng 63% kế hoạch được Thủ tướng thông qua).
 
Nguyên nhân chính của việc không đạt kế hoạch là trong thời gian qua, Trung Quốc (thị trường của 2 triệu tấn than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí) đã áp dụng quy định về hàng rào chất lượng đối với than nhập khẩu.
 
Theo đó, các loại than nhập khẩu vào Trung Quốc, trước khi pha trộn, sử dụng phải được giám định lại chất lượng theo hàng rào tiêu chuẩn các nguyên tố vi lượng như thủy ngân, arsen, photspho, clo, flo… do Chính phủ Trung Quốc yêu cầu.
 
Trong khi đó, than atraxit của TKV lại không đáp ứng được các yêu cầu về hàng rào tiêu chuẩn các nguyên tố vi lượng theo quy định của Chính phủ Trung Quốc. Vì vậy đến nay, TKV chưa ký được hợp đồng xuất khẩu chủng loại than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí sang thị trường Trung Quốc trong năm 2017.
 
Điều này dẫn đến tồn kho than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí dự kiến lên tới 2,5 triệu tấn.
 
Để xử lý khối lượng than này, TKV cho biết Tập đoàn đang tích cực tìm kiếm, đàm phán với các đối tác, thị trường ngoài Trung Quốc (Thái Lan, Hàn Quốc) để xuất khẩu trong năm 2018 với khối lượng khoảng 2 triệu tấn.
 
“Trường hợp rào cản kỹ thuật về chất lượng đối với than nhập khẩu được Chính phủ Trung Quốc tháo dỡ, khả năng xuất khẩu than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí sẽ tăng hơn”, Tập đoàn cho hay.
 
Năm 2018 sẽ xuất khẩu 4,05 triệu tấn than
 
Theo báo cáo của TKV, sản lượng than thương phẩm tiêu thụ năm 2018 của Tập đoàn dự kiến là 36 triệu tấn. Trong đó, tiêu thụ trong nước khoảng 32 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn (gồm 2 triệu tấn than cục, than cám 1,2, 3 và 2 triệu tấn than cám cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí).
 
Theo báo cáo của Tổng công ty Đông Bắc, sản lượng than thương phẩm tiêu thụ năm 2018 của Tổng công ty dự kiến là 5,85 triệu tấn. Trong đó, tiêu thụ trong nước khảng 5,8 triệu tấn, xuất khẩu khoảng 50.000 tấn (bao gồm 30.000 tấn than cục và 20.000 tấn than cám 1,2,3).
 
Như vậy, tổng khối lượng than dự kiến xuất khẩu theo kế hoạch năm 2018 của TKV và Tổng công ty Đông Bắc khoảng 4,05 triệu tấn than cục, than cám 1,2,3 và than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí.
 
Con số này cao hơn 2 triệu tấn (đối với chủng loại than cám 4b.3, 5a.3 và 5b.3 khu vực Vàng Danh – Uông Bí tồn kho năm 2017 chuyển sang mà trong nước chưa có nhu cầu sử dụng) so với khối lượng xuất khẩu than năm 2018 theo kế hoạch đã được Thủ tướng thông qua tại Văn bản số 10450/VPCP-KTN ngày 2/12/2016.
 
Để xử lý tình trạng tồn kho than, Bộ Công Thương kiến nghị Thủ tướng phê duyệt kế hoạch xuất khẩu than năm 2018 của TKV và Tổng công ty Đông Bắc như trên.
 
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng kiến nghị Thủ tướng cho phép TKV được ký hợp đồng nguyên tắc dài hạn đến năm 2025 xuất khẩu than cục, than cám chất lượng cao (cám 1,2,3) trong nước không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết sang thị trường Nhật Bản. Khối lượng than xuất khẩu cụ thể, TKV thực hiện theo quy định hiện hành và phù hợp với kế hoạch xuất khẩu than hàng năm được Thủ tướng phê duyệt.
 
Theo lý giải của Bộ Công Thương, Nhật Bản là thị trường truyền thống, ổn định và có mối quan hệ hợp tác rất tốt trong việc nhập khẩu than của TKV.
 
Việc duy trì kế hoạch xuất khẩu than dài hạn các loại than cục, than cám chất lượng cao (cám 1,2,3) trong nước chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết sang thị trường Nhật Bản đã giúp ngành than ổn định sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên than; giúp Việt Nam có diều kiện để duy trì và khai thác nguồn tín dụng nước ngoài (đặc biệt là khoản tín dụng mà JBIC xem xét cấp cho TKV).
 
Hiện nay, Thủ tướng đã cho phép TKV xuất khẩu than cục, than cám chất lượng cao (cám 1,2,3) trong nước không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết trong giai đoạn 2017 – 2020. Tuy nhiên thời hạn này chưa đáp ứng được yêu cầu cấp tín dụng của JBIC (tối thiểu là 5 năm tài khóa Nhật Bản).
 
Vì vậy để TKV có điều kiện huy động nguồn vốn tín dụng của JBIC, TKV cần ký hợp đồng nguyên tắc dài hạn đến năm 2025 xuất khẩu than cục, than cám chất lượng cao (cám 1,2,3) trong nước không có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng không hết sang thị trường Nhật Bản.
Thụy Khanh

Tuyên bố trách nhiệm: Bài viết được lấy nguyên văn từ nguồn tin nêu trên. Mọi thắc mắc về nội dung bài viết xin liên hệ trực tiếp với tác giả. Chúng tôi sẽ sửa, hoặc xóa bài viết nếu nhận được yêu cầu từ phía tác giả hoặc nếu bài gốc được sửa, hoặc xóa, nhưng vẫn bảo đảm nội dung được lấy nguyên văn từ bản gốc.

Nguồn: www.stockbiz.vn